Trả lời nhanh: Kinh tế số (digital economy) là hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, nền tảng số và mô hình vận hành số, theo Luật Chuyển đổi số 2025. Ví dụ: bán hàng qua sàn thương mại điện tử, thanh toán bằng mã QR, gọi xe qua ứng dụng.
Điểm chính
- Việt Nam chia kinh tế số thành ba cấu phần: kinh tế số ICT (phần lõi), kinh tế số nền tảng và kinh tế số ngành.
- Theo Cục Thống kê, năm 2025 kinh tế số chiếm 14,02% GDP, khoảng 72,1 tỷ USD; riêng kinh tế số lõi chiếm 8,42% GDP.
- Mục tiêu 20% GDP năm 2025 chưa đạt. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mốc tối thiểu 30% GDP vào năm 2030.
- Con số 39 tỷ USD của báo cáo e-Conomy SEA 2025 là tổng giá trị giao dịch (GMV) của mảng tiêu dùng trực tuyến, không so trực tiếp được với tỷ trọng GDP.
- Năm 2026, nhiều luật mới cho môi trường số có hiệu lực: Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Công nghiệp công nghệ số, Chuyển đổi số, Thương mại điện tử.
Mục lục
- Kinh tế số là gì?
- Kinh tế số gồm những cấu phần nào?
- Kinh tế số khác kinh tế internet và kinh tế số hoá thế nào?
- Kinh tế số có những đặc điểm gì?
- Các lĩnh vực của kinh tế số tại Việt Nam gồm những gì?
- Kinh tế số được đo lường như thế nào?
- Kinh tế số Việt Nam năm 2025 đạt quy mô bao nhiêu?
- Việt Nam đặt mục tiêu gì cho kinh tế số đến năm 2030?
- Kinh tế số Việt Nam đứng ở đâu trong khu vực ASEAN?
- Khung pháp lý cho kinh tế số tại Việt Nam gồm những luật nào?
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội và thách thức gì trong kinh tế số?
- Câu hỏi thường gặp
Kinh tế số là gì?
Nói đơn giản, kinh tế số là phần của nền kinh tế mà ở đó dữ liệu và công nghệ số trở thành “nguyên liệu” và “nhà xưởng” chính. Để hiểu kinh tế số là gì cho đúng, bạn nên nắm cả định nghĩa pháp lý của Việt Nam lẫn cách tài liệu quốc tế mô tả.
Định nghĩa theo Luật Chuyển đổi số 2025
Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 và có hiệu lực từ 01/07/2026, định nghĩa tại khoản 12 Điều 3: kinh tế số “là hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số, nền tảng số và mô hình vận hành số”.
Cũng tại Điều 3, hạ tầng số gồm viễn thông, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và kết nối máy tới máy; nền tảng số là hệ thống thông tin tạo môi trường để các bên giao dịch, cung cấp hoặc sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Luật dành Điều 36 đến Điều 39 cho kinh tế số; Điều 36 coi đây là “nhiệm vụ trọng tâm, đột phá”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm.
Định nghĩa trong Chiến lược quốc gia (Quyết định 411/QĐ-TTg)
Trước khi có luật, định nghĩa phổ biến nằm trong Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định 411/QĐ-TTg ngày 31/03/2022). Theo đó, kinh tế số là hoạt động kinh tế sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng công nghệ thông tin – viễn thông để tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu hoá cấu trúc nền kinh tế.
Hai định nghĩa bổ sung cho nhau: luật nêu kinh tế số dựa trên gì, chiến lược nói rõ mục đích.
Digital economy trong tài liệu quốc tế
Thế giới chưa có một định nghĩa digital economy duy nhất. Khung được trích dẫn nhiều của Rumana Bukht và Richard Heeks (Đại học Manchester, năm 2017) coi kinh tế số là phần sản lượng đến chủ yếu từ công nghệ số, với mô hình kinh doanh dựa trên hàng hoá, dịch vụ số, và chia thành ba phạm vi: lõi (ngành công nghệ thông tin, viễn thông), hẹp (thêm dịch vụ số và nền tảng) và rộng (ứng dụng công nghệ số trong mọi ngành). Cách chia ba lớp của Việt Nam khá tương đồng với khung này.
Ví dụ dễ hiểu
Ví dụ minh hoạ: một cơ sở làm bánh ở Đà Nẵng nhận đơn qua sàn thương mại điện tử, khách trả tiền bằng mã QR, đơn được giao bằng ứng dụng giao hàng. Chủ cơ sở dùng phần mềm bán hàng trên đám mây để xem món nào bán chạy. Mỗi mắt xích đó đều thuộc kinh tế số.
Kinh tế số gồm những cấu phần nào?
Quyết định 411/QĐ-TTg chia kinh tế số thành ba cấu phần. Hãy hình dung chúng như ba vòng tròn lồng nhau: vòng trong là nơi tạo ra công nghệ, vòng giữa là nơi công nghệ kết nối cung và cầu, vòng ngoài là nơi công nghệ thấm vào mọi ngành.
Kinh tế số ICT (kinh tế số lõi)
Theo Quyết định 411/QĐ-TTg, kinh tế số ICT là công nghiệp công nghệ thông tin và dịch vụ viễn thông. Đây là nơi “sản xuất” công nghệ: thiết bị điện tử, linh kiện, phần mềm, dịch vụ công nghệ thông tin, mạng di động, cáp quang, trung tâm dữ liệu. Chiến lược đặt trọng tâm vào sản phẩm công nghệ số “Make in Việt Nam”.
Trong số liệu thống kê, bạn sẽ gặp cụm từ “kinh tế số lõi”. Đây là nhóm hoạt động mà công nghệ số chính là sản phẩm, đối lập với nhóm “số hoá trong các ngành khác”. Năm 2025, kinh tế số lõi chiếm 8,42% GDP, tức hơn một nửa toàn bộ kinh tế số.
Kinh tế số nền tảng
Đây là hoạt động kinh tế của các nền tảng số, các hệ thống trực tuyến kết nối cung với cầu và các dịch vụ trực tuyến trên mạng. Sàn thương mại điện tử, ví điện tử, ứng dụng gọi xe, mạng xã hội, ứng dụng đặt phòng đều thuộc nhóm này. Nền tảng không nhất thiết sở hữu hàng hoá hay xe cộ, mà kiếm tiền từ việc kết nối.
Kinh tế số ngành
Kinh tế số ngành là hoạt động kinh tế số trong các ngành, lĩnh vực: ngân hàng số, nông nghiệp thông minh, nhà máy thông minh, logistics số, y tế số, giáo dục trực tuyến. Đây là vòng rộng nhất, nơi doanh nghiệp truyền thống tham gia nhiều nhất. Quá trình này gắn chặt với chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
Kinh tế số khác kinh tế internet và kinh tế số hoá thế nào?
Ba thuật ngữ này hay bị dùng lẫn. Thực ra chúng có phạm vi khác nhau, gần giống ba vòng tròn ở sơ đồ trên.
| Tiêu chí | Kinh tế internet | Kinh tế số | Kinh tế số hoá (digitalised economy) |
|---|---|---|---|
| Phạm vi | Hoạt động diễn ra hoàn toàn trên mạng internet | Ba cấu phần: ICT, nền tảng, ngành | Mọi ngành có ứng dụng công nghệ số, dù ở mức nào |
| Ví dụ | Mạng xã hội, quảng cáo trực tuyến, trò chơi trực tuyến | Sản xuất phần mềm, sàn thương mại điện tử, ngân hàng số | Nhà máy dùng cảm biến, cửa hàng dùng hoá đơn điện tử |
| Quan hệ | Một phần của kinh tế số, gần với vòng “nền tảng” | Khái niệm được luật Việt Nam định nghĩa | Tương ứng phạm vi “rộng” trong khung Bukht và Heeks |
| Đo lường ở Việt Nam | Không có chỉ tiêu riêng | Tỷ trọng giá trị tăng thêm trong GDP | Thể hiện qua nhóm “số hoá trong các ngành khác” |
Ngoài ra, cần phân biệt kinh tế số với hành động số hoá. Số hoá là chuyển dữ liệu từ giấy sang dạng số; kinh tế số là cả một khu vực kinh tế tạo ra giá trị từ dữ liệu và công nghệ. Bài phân biệt số hoá và chuyển đổi số giải thích kỹ hơn ở cấp doanh nghiệp.
Kinh tế số có những đặc điểm gì?
- Dữ liệu là đầu vào chính: dùng để tạo sản phẩm, định giá, dự báo nhu cầu.
- Chi phí thêm một khách hàng rất thấp: phần mềm, nội dung số làm một lần, bán nhiều lần.
- Hiệu ứng mạng: càng nhiều người bán thì sàn càng hút người mua, nên thị trường nền tảng dễ tập trung.
- Không bị giới hạn địa lý: cửa hàng nhỏ có thể bán khắp cả nước, công ty phần mềm có thể xuất khẩu dịch vụ.
- Rủi ro mới: lừa đảo trực tuyến, rò rỉ dữ liệu, phụ thuộc nền tảng.
Các lĩnh vực của kinh tế số tại Việt Nam gồm những gì?
Báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain & Company chia mảng tiêu dùng trực tuyến của kinh tế số thành các lĩnh vực dưới đây. Số liệu là ước tính tổng giá trị giao dịch (GMV) năm 2025 cho Việt Nam, theo các bài tường thuật báo cáo trên VnEconomy và Báo Công Thương (11/2025).
| Lĩnh vực | Ví dụ hoạt động | Ước tính năm 2025 (e-Conomy SEA) |
|---|---|---|
| Thương mại điện tử | Sàn, mạng xã hội bán hàng, video bán hàng trực tiếp | Khoảng 25 tỷ USD, tăng 17%; chiếm khoảng hai phần ba GMV |
| Thanh toán số | Chuyển khoản qua ứng dụng, mã QR, ví điện tử | Tổng giá trị thanh toán số khoảng 178 tỷ USD |
| Gọi xe, giao đồ ăn | Ứng dụng gọi xe máy, ô tô, giao món | Khoảng 5 tỷ USD, tăng 20%, nhanh nhất các mảng |
| Truyền thông, nội dung số | Quảng cáo trực tuyến, trò chơi, video và nhạc theo thuê bao | Khoảng 6 tỷ USD, tăng hơn 16% |
| Du lịch số | Đặt vé máy bay, phòng khách sạn trực tuyến | Khoảng 4 tỷ USD, tăng 16% |
Tổng cộng, GMV kinh tế số Việt Nam năm 2025 được ước đạt 39 tỷ USD, tăng 17%. Báo cáo này không đo các mảng như phần mềm, sản xuất thiết bị điện tử, dịch vụ đám mây hay nông nghiệp thông minh.
Với thương mại điện tử, số liệu trong nước cho bức tranh tương tự. Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), được Thời báo Tài chính Việt Nam dẫn ngày 02/02/2026, quy mô bán lẻ thương mại điện tử năm 2025 ước đạt 31 tỷ USD, chiếm khoảng 11% tổng mức bán lẻ hàng hoá. Ở mảng thanh toán, Ngân hàng Nhà nước cho biết đến hết năm 2025 gần 89% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản thanh toán; xem thêm bài chuyển đổi số ngành ngân hàng.
Kinh tế số được đo lường như thế nào?
Phần này giải thích vì sao bạn gặp nhiều con số khác nhau về kinh tế số Việt Nam.
Cách Cục Thống kê đo
Chỉ tiêu chính thức là tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP. Theo VnEconomy (13/09/2023), Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) tham khảo hướng dẫn của OECD, đo dựa trên dữ liệu tài khoản quốc gia theo phương pháp sản xuất và bảng cân đối liên ngành (bảng IO), vì Liên hợp quốc chưa có phương pháp luận thống nhất.
Kết quả được tách thành hai nhóm:
- Kinh tế số lõi: giá trị tạo ra từ chính các ngành công nghệ số.
- Số hoá trong các ngành khác: phần giá trị tăng thêm nhờ ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
Số liệu không tách riêng phần “kinh tế nền tảng”. Từ 01/07/2026, Điều 39 Luật Chuyển đổi số yêu cầu cơ quan thống kê công bố hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đo kinh tế số; doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp dữ liệu khi được yêu cầu.
Vì sao có nhiều con số khác nhau?
- GMV khác giá trị tăng thêm: GMV của e-Conomy SEA là tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ giao dịch qua kênh số, gồm cả giá vốn. GDP chỉ tính phần giá trị tăng thêm.
- Cơ quan và phương pháp khác nhau: năm 2024, Bộ Thông tin và Truyền thông báo cáo kinh tế số ước chiếm 18,3% GDP trong 6 tháng đầu năm (Báo Đấu thầu, 11/07/2024), cao hơn chuỗi số của cơ quan thống kê.
- Số sơ bộ và số chính thức: năm 2023, tính toán thử nghiệm sơ bộ của Tổng cục Thống kê cho thấy kinh tế số năm 2022 chiếm 12,86% GDP, trong đó phần lõi 7,82% và phần số hoá các ngành 5,03%.
Kinh tế số Việt Nam năm 2025 đạt quy mô bao nhiêu?
Theo số liệu Cục Thống kê được VCCI đăng ngày 07/01/2026, giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025 ước chiếm 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần năm 2020. Giai đoạn 2021 đến 2025, kinh tế số tăng bình quân 12,1% mỗi năm theo giá hiện hành và 9,8% theo giá so sánh.
- Kinh tế số lõi: 8,42% GDP, khoảng 43,3 tỷ USD.
- Số hoá trong các ngành khác: 5,6% GDP, khoảng 28,8 tỷ USD.
- Địa phương có tỷ trọng cao: Bắc Ninh 46,3%, Thái Nguyên 29,5%, Hải Phòng 22,2% GRDP. Ở lần tính sơ bộ cho năm 2022, cơ quan thống kê cho biết tỷ trọng cao tại nhóm tỉnh dẫn đầu chủ yếu nhờ sản xuất điện tử, thuộc phần lõi.
Trong thông cáo số liệu kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Cục Thống kê không công bố tỷ trọng kinh tế số. Vì vậy, đến tháng 10/2026, con số 14,02% của năm 2025 vẫn là số liệu cả năm mới nhất.
Việt Nam đặt mục tiêu gì cho kinh tế số đến năm 2030?
Hai văn bản định hướng chính là Quyết định 411/QĐ-TTg (2022) và Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Bảng dưới đối chiếu mục tiêu với thực tế.
| Chỉ tiêu | Mục tiêu | Thực tế gần nhất |
|---|---|---|
| Tỷ trọng kinh tế số trong GDP | 20% năm 2025 (QĐ 411); tối thiểu 30% năm 2030 (NQ 57) | 14,02% năm 2025 (Cục Thống kê) |
| Tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực | Tối thiểu 10% năm 2025 (QĐ 411) | Chưa có số liệu công bố theo từng ngành |
| Thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ | Trên 10% năm 2025 (QĐ 411) | Khoảng 11% năm 2025 (ước tính của Bộ Công Thương) |
| Doanh nghiệp dùng hợp đồng điện tử | Trên 80% năm 2025 (QĐ 411) | Chưa tìm thấy số liệu chính thức |
| Doanh nghiệp nhỏ và vừa dùng nền tảng số | Trên 50% năm 2025 (QĐ 411) | Chưa tìm thấy số liệu chính thức |
| Nhân lực kinh tế số trong lực lượng lao động | Trên 2% năm 2025 (QĐ 411) | Chưa tìm thấy số liệu chính thức |
| Giao dịch không dùng tiền mặt | 80% năm 2030 (NQ 57) | Đang thực hiện |
Lưu ý: khoảng cách giữa 14,02% và 20% không hoàn toàn do kinh tế số phát triển chậm. Mục tiêu được đặt năm 2022, trước khi cơ quan thống kê hoàn thiện phương pháp đo, nên một phần chênh lệch có thể đến từ cách tính. Dù vậy, mốc 30% năm 2030 vẫn đòi hỏi tốc độ tăng nhanh hơn nhiều so với giai đoạn 2021 đến 2025.
Kinh tế số Việt Nam đứng ở đâu trong khu vực ASEAN?
So sánh giữa các nước cần thận trọng vì mỗi nước đo kinh tế số theo cách riêng. Nguồn so sánh được dùng nhiều nhất là e-Conomy SEA, vì áp dụng cùng một phương pháp GMV cho cả khu vực.
- Toàn khu vực: theo Google, Temasek và Bain (11/2025), kinh tế số Đông Nam Á dự kiến vượt 300 tỷ USD GMV năm 2025, tăng 15%. Báo cáo năm 2025 lần đầu mở rộng từ 6 lên 10 quốc gia, thêm Brunei, Campuchia, Lào và Myanmar.
- Việt Nam: khoảng 39 tỷ USD, tăng 17%, cao hơn mức bình quân khu vực.
- Malaysia: cũng khoảng 39 tỷ USD nhưng tăng 19%, được báo cáo ghi nhận là tăng nhanh nhất khu vực (Đại biểu Nhân dân, 11/2025).
- Singapore: khoảng 29 tỷ USD, tăng 7%.
Theo tường thuật của VnEconomy, Việt Nam còn dẫn đầu khu vực về mức độ người dùng tương tác với AI. Tuy vậy, GMV chỉ phản ánh tiêu dùng trực tuyến, không thể hiện phần sản xuất điện tử vốn rất lớn trong kinh tế số lõi của Việt Nam.
Khung pháp lý cho kinh tế số tại Việt Nam gồm những luật nào?
Từ năm 2024 đến 2026, hàng loạt luật mới có hiệu lực, thay đổi “luật chơi” trên môi trường số.
| Văn bản | Thông qua / hiệu lực | Điểm doanh nghiệp cần biết |
|---|---|---|
| Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 | 22/06/2023; hiệu lực 01/07/2024 | Thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý; quy định chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử; quản lý nền tảng giao dịch điện tử quy mô lớn |
| Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15 | 14/06/2025; hiệu lực 01/01/2026 | Ưu đãi cho công nghiệp công nghệ số, bán dẫn, AI; lần đầu có khái niệm tài sản số; sản phẩm do AI tạo ra phải có dấu hiệu nhận dạng |
| Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 | 26/06/2025; hiệu lực 01/01/2026 | Quyền của chủ thể dữ liệu; nghĩa vụ của doanh nghiệp khi thu thập, xử lý dữ liệu khách hàng |
| Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 | 11/12/2025; hiệu lực 01/07/2026 | Định nghĩa kinh tế số; trách nhiệm của chủ quản nền tảng số (Điều 38); hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Điều 37); thống kê kinh tế số (Điều 39) |
| Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 | 10/12/2025; hiệu lực 01/07/2026 | Quy định với sàn và người bán, gồm xác thực danh tính người bán, quy định cho bán hàng qua livestream |
Nếu bạn vận hành nền tảng, Điều 38 Luật Chuyển đổi số yêu cầu công khai điều khoản sử dụng, cơ chế giải quyết khiếu nại và không được phân biệt đối xử trái luật với nhà cung cấp trên nền tảng.
Với tài sản số và blockchain, bạn có thể đọc bài khung pháp lý blockchain và tài sản số tại Việt Nam. Kinh tế số cũng chạy song song với hai trụ cột còn lại của chuyển đổi số quốc gia là chính phủ số và xã hội số.
Phần này chỉ tóm tắt để định hướng. Khi áp dụng cho trường hợp cụ thể, bạn nên đọc văn bản gốc, nghị định hướng dẫn hoặc hỏi chuyên gia pháp lý.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội và thách thức gì trong kinh tế số?
Cơ hội
- Thị trường rộng hơn: bán toàn quốc qua sàn và mạng xã hội, không cần mở chi nhánh.
- Công cụ thuê theo tháng: phần mềm kế toán, bán hàng, quản lý kho dạng đám mây giúp doanh nghiệp không phải đầu tư máy chủ.
- Dữ liệu để ra quyết định: biết khách mua gì, lúc nào, ở đâu để nhập hàng và định giá sát hơn.
- Chính sách hỗ trợ: Điều 37 Luật Chuyển đổi số quy định Nhà nước hỗ trợ tài chính và các hình thức khác cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh; ưu tiên vùng khó khăn và ngành được ưu tiên chuyển đổi số.
- Mô hình kinh doanh mới: bán theo thuê bao, bán dịch vụ kèm sản phẩm, đặt hàng trước theo dữ liệu. Xem thêm cách thiết kế mô hình kinh doanh.
Thách thức
- Phụ thuộc nền tảng: phí sàn, thuật toán hiển thị, chính sách đổi trả có thể thay đổi bất cứ lúc nào, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận.
- Cạnh tranh gay gắt: với doanh nghiệp lớn và hàng xuyên biên giới.
- Thiếu người và thiếu dữ liệu sạch: nhiều doanh nghiệp vẫn ghi chép thủ công, dữ liệu nằm rải rác trong bảng tính và điện thoại nhân viên.
- Nghĩa vụ tuân thủ tăng: bảo vệ dữ liệu cá nhân, hoá đơn điện tử, quy định với người bán trực tuyến.
- An ninh mạng và lừa đảo: giả mạo thương hiệu, chiếm tài khoản bán hàng, rò rỉ dữ liệu khách.
Bước khởi đầu hợp lý: chọn một kênh số khách hàng đang dùng nhiều nhất, gom dữ liệu khách và đơn hàng về một nơi, kết nối hoá đơn điện tử với thanh toán số, rồi đo kết quả trước khi mở rộng.
Câu hỏi thường gặp
Kinh tế số có phải là thương mại điện tử không?
Không. Thương mại điện tử chỉ là một lĩnh vực trong kinh tế số, thuộc nhóm kinh tế số nền tảng. Kinh tế số còn gồm công nghiệp công nghệ thông tin, viễn thông, thanh toán số, nội dung số và phần số hoá trong mọi ngành như ngân hàng, sản xuất, nông nghiệp.
Kinh tế số chiếm bao nhiêu phần trăm GDP Việt Nam?
Theo Cục Thống kê, năm 2025 kinh tế số chiếm 14,02% GDP, khoảng 72,1 tỷ USD. Đây là số liệu cả năm mới nhất tính đến tháng 10/2026.
Kinh tế số lõi là gì?
Kinh tế số lõi là phần giá trị tạo ra từ chính các ngành công nghệ số, như sản xuất thiết bị điện tử, phần mềm, viễn thông, dịch vụ công nghệ thông tin. Năm 2025, phần này chiếm 8,42% GDP. Phần còn lại là số hoá trong các ngành khác, chiếm 5,6% GDP.
Vì sao có nguồn nói kinh tế số Việt Nam 39 tỷ USD, có nguồn nói 72 tỷ USD?
Hai con số đo hai thứ khác nhau. 39 tỷ USD là tổng giá trị giao dịch (GMV) của mảng tiêu dùng trực tuyến theo e-Conomy SEA 2025. 72,1 tỷ USD là giá trị tăng thêm của toàn bộ kinh tế số theo Cục Thống kê, gồm cả sản xuất điện tử và số hoá các ngành.
Hộ kinh doanh nhỏ có cần quan tâm tới kinh tế số không?
Có. Hoá đơn điện tử, thanh toán qua mã QR và bán hàng qua mạng đã trở thành thói quen của khách hàng và yêu cầu của cơ quan quản lý. Luật Chuyển đổi số cũng có điều khoản riêng (Điều 37) về hỗ trợ hộ kinh doanh, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ tham gia kinh tế số.